19 October 2015

ÔNG HỒ CHÍ MINH CÓ THẬT LÀ NGƯỜI TÀI, ĐỨC ?

   Hiên nay trên FB Quang Trần Nhật đang hô hào xử lý Nguyễn Lân Thằng vì "tôi": "Xúc phạm các Anh hùng Dân tộc và Lãnh tụ Anh hùng Dân tộc Hồ Chí Minh nơi công cộng".
FB Thành Phạm xin cung cấp cho Quang Trần Nhật một kẻ " xúc phạm" lãnh tụ Hồ Chí Minh còn hơn tỷ lần Nguyễn Lân Thắng, đây nè:

   Ông Hồ Chí Minh Có Thực Là Người Tài, Đức?
Bà Đầm Xòe

   Việc nhân cả nước đang là một công trường dựng tượng đài ông Hồ Chí Minh.


I. THẾ NAÒ LÀ NGƯỜI TÀI, ĐỨC?

   Người Bình thường và người Tài, Đức có ranh giới rất rõ ràng.
Người Bình thường là người nghĩ và làm những việc bình thường. Trong xã hội số này luôn chiếm số lượng tuyệt đối. 

   Người Tài, Đức là người nghĩ và làm những việc vĩ đại mà những người Bình thường không nghĩ và làm được. Trong xã hội số này luôn chiếm thiểu số tuyệt đối, gần bằng không, tức hiếm lắm.
35 triệu năm qua, hàng tỷ con người đã sống và đã chết ở trái đất này, trong đó số lượng người Tài, Đức của chủng tộc Người chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay.

   Người Việt Nam ta cũng vậy. 35 triệu năm qua có cả tỷ người đã sống và chết trên mảnh đất hình chữ S này, nhưng số lượng người Tài, Đức được dân tộc định vị, tôn vinh, cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Người tài hiếm đến mức, ai đã học qua lịch sử Việt Nam đều có thể xòe tay mình ra đếm hết số lượng người Tài. Đức mà không sợ bỏ sót người Tài, Đức nào. Xa lắc xa lơ có hai Bà Trưng, Bà Triệu; gần một ngìn năm trở lại đây có Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Ánh, Quang Trung; có thể kể thêm những người Tài, Đức hạng dưới như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi.

   Ở thì đương đại, người đang được ĐCSVN tung hô là người Tài, Đức nhất Việt Nam từ xưa đến nay, đã tốn kém cả hàng chục tấn vàng tiền dựng tượng đài la liệt khắp non song- Người đó có tên: Hồ Chí Minh. 
Nhưng có thực ông Hồ Chí Minh là người Tài, Đức nhất Việt Nam từ xưa đến nay?

I.1. TÀI

   Nếu đem chân lý Tài là người nghĩ và làm những điều vĩ đại mà người thường không nghĩ và làm được thì thấy:
- Ông Hồ cướp được chính phủ Trần Trọng Kim không tốn một giọt máu nào thì quả ông là người Tài. 
- Ông Hồ đánh Pháp và thắng Pháp, ông cũng là người Tài. 
- Ông Hồ đánh Mỹ, đã đánh cho Mỹ cút về nước, ông cũng là người Tài.
- Ông Hồ đem học thuyết Mác- Lenin về Việt Nam rồi gom một nửa dân nước Việt Nam đa phần còn mù chữ vào những cái chuồng HTX, xếp hàng chỉnh tề, vừa cầm liềm búa đi lên Chủ nghĩa xã hội, vừa cầm súng, cầm gậy đánh giặc với đường lối, chủ trương “biến không thành có”, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, trong khi thày ( Mac –Lenin) của ông dạy ông, phải là một nước có nền công nghiệp phát triển mới có thể xây dựng được Xã hội cộng sản. Thế mà, từ già đến trẻ, từ kẻ vô học đến trí thức, từ người chỉ biết uống nước ao, gặm cỏ ở ruộng làng cho đến kẻ đi Tây, đi Tàu, ăn bơ dư, sữa hậu cũng nhất tin theo, đi theo, làm theo. Ông cũng là người Tài. 
- Thêm Tài nữa, ông có vợ có con hẳn hoi, nhưng ông tuyên bố “tôi không vợ, không con” mà cả dân tộc Việt Nam từ gìa đến trẻ, từ trí thức đến vô học, đều tin và thừa nhận điều này. Ông cũng là người tài.
- Ông là con của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hòang Thị Loan, là con cháu chút chít trụt trịt của Lạc Long Quân và Âu Cơ, của Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… mà ông tự xưng mình là “Cha gìa dân tộc”. Thế mà cả trăm họ con dân Đại Việt đều phấn khởi tin và cúi đầu, chắp tay thành kính thừa nhận. Ông cũng là người Tài.
Thật, từ cổ chí nay, từ già đến trẻ, từ kẻ vô học cho đến trí thức Việt, chưa từng có một đại thánh nhân, một lãnh tụ vĩ đại nào của con dân trăm họ Đại Việt làm được những điều này. Ông thực sự là một người Tài.

I.2. Đức.

   Đức vĩ đại, lớn lao và cao cả của một người Bình thường hay Vĩ đại là luôn biết hy sinh quyền và lợi của riêng mình cho đất nước, cho dân tộc. Vì đất nước, vì dân tộc họ sẵn sàng hiến dân cả mạng mình cho sự nghiệp đó.
- Thời nhà Trần,Trần Bình Trọng chấp nhận cái chết, không chấp nhận ngôi Vương để làm tay sai cho người Hán cướp nước Đại Việt, nên ông đã mắng thẳng vào mặt người Hán, kẻ dụ dỗ ông, rằng: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”. Trần Bình Trọng là người có Đức vĩ đại. Hoặc như Trần Hưng Đạo, nhất nhất bảo vệ nền độc lập của Đại Việt trước hùng thế ào ạt xâm lược Đại Việt của Nguyên Mông, rằng: “Bệ hạ muôn đầu hàng xin hãy chém đầu thần trước đã”.
- Ông Hồ Chi Minh, tuổi còn non trẻ, nhưng đã nhận ra nỗi nhục của một đất nước không có độc lập nên rời đất nước ra đi, tìm đường cứu nước, khởi thủy, ông cũng là người mang trong lòng nỗi niềm đạo đức.

   III- Có thực ông Hồ Chí Minh là người Tài, Đức?

   III. 1- Nhưng trên đường đi tìm đường cứu nước, mới chân ướt chân ráo vào đến Sài Gòn, ông đã bập yêu ngay bé Huệ, rồi thề ước với nhau: “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, để út Huệ mỏi mòn chờ đợi cho đến già hết kiếp vẫn không gặp được người hẹn hò tình yêu với mình. (Theo truyện Búp Sen Xanh của NV Sơn Tùng và phim Tài liệu Việt Nam: “Hẹn gặp lại Sài Gòn). Ông Hồ biết ngày mình ra đi, chưa biết bao giờ biết ngày trở lại, mà thề bồi hẹn ước với người ta, để người ta chờ đợi đến tàn cả một đời mà ông không có động thái gì quan tâm đến người ta sau đó, trong khi ông đã là Chủ tịch nước Việt Nam đầy quyền uy, mưu mẹo. Ứng xử giữa người với người như thế, ông không thể được xem là người có đạo đức.

   III.2 - Ông có vợ, con mà nói “tôi không vợ, không con”, là hành vi gian dối, không có đạo đức.

   III.3 - Ông thuộc thế thứ mấy ngàn của lớp lớp con cháu Lạc Hồng, là con đẻ cụ thể của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà HoàngThị Loan mà ông dám xưng xưng mình là “Cha già dân tộc”. Ông là kẻ mất dạy, không có đạo đức.

   III. 4- Ông đã ít nhất có hai vợ, hai con, một với bà Tăng Tuyết Minh, người Trung Quốc, cưới năm 1926 tại nhà hàng Thanh Bình bên Trung Quốc và sinh được một cháu gái nhưng chết yểu ( Tài liệu công bố của ĐCSTQ); hai với bà Nông Thị Xuân người Việt Nam, sinh con với bà Xuân năm 1956 ( tài liệu công khai trên mạng Internet). Ấy mà, ở cương vị Chủ tịch nước, quyền uy nhất nước, mưu mẹo thiên tài; một, ông lại không đoái hoài gì đến bà Tăng Tuyết Minh, để bà sống trong nỗi chờ đợi mỏi mòn cô đơn cho mãi đến năm 1991 mới chết; hai, ông sinh con với bà Xuân, nhưng ông không dám cưới bà ấy, để mặc cho tay chân của ông là ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an, thủ tiêu mà không có bất kỳ sự ngăn chặn hay thương xót gì ( tài liệu công khai trên mạng Internet). Ông là người ích kỷ, tàn ác, không có đạo đức.

   III.5 - Chị ruột ông, bà Nguyễn Thị Thanh, một chiến sĩ cách mạng, lần mò từ Nghệ An ra Hà Nội, ông chỉ gặp có 15 phút rồi biến, để chị ông phải ngậm ngùi, uất tức trở về quê, mang tâm nguyện trong lòng “Thề không bao giờ gặp thằng Sinh Cung nữa”. Ruột già, máu trên máu dưới mà đổi xử với nhau như vậy, ông chỉ là một kẻ vô tình, bạc nghĩa, không có đạo đức làm người tối thiểu.

   III. 6 - Cướp được chính quyền của Trần Trọng Kim, không chấp nhận nước Việt Nam non trẻ nằm trong một thể chế cộng hòa thuộc Khối Liên hiệp Pháp, quyết đưa cả dân tộc, hơn 20 triệu người, đang đói nghèo xác sơ, suy dinh dưỡng vào cuộc chiến tranh 9 năm đánh Pháp, làm mấy vạn thanh niên trai tráng, sinh lực cốt yếu của dân tộc, bị bỏ mạng, bị thương lê lết trong trận Điên Biên phủ. Ông là người tàn ác, không có đạo đức cứu sinh cho dân tộc.

   Sự thật, cái Tài này của ông, chỉ qua sau 6 năm đã bộc lộ ra cái Tài Ngu. Sự thật, năm 1960 Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết và “TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘCĐỊA, 1960” ( Xem toàn văn tuyên bố đính kèm phía dưới), cáo chung cho chế độ thực dân. Nhờ đó, hàng loạt các nước ở châu Phi, châu Á, Châu Mỹ đã nhận về sự độc lập dân tộc mà không bị hao tổn của cải và xương máu với các nước đế quốc như: Anh , Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… Như thế, Việt Nam, nếu có hay không có trận chiến Điện Biên Phủ với Pháp, hao tổn người và của cải, thì Việt Nam cũng sẽ được trao trả độc lập vào năm 1960. Rõ ràng, máu xương và của cải đổ xuống ở trận Biên Phủ Phủ là lợi ít, hại nhiều. Với những người chủ trương cuộc chiến này, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh, phải nhận về sự Ngu nhiều, Tài ít là không thể phủ nhận. Tài ở đây là đánh thắng được Pháp. Ngu ở đây là không biết thời, biết thế, đợi thời, đợi thế như nhiều nước, để mục tiêu vẫn đạt được mà xương máu, sinh lực của dân tộc không phải đổ ra một cách phí phạm nhiều hơn là có ích như vậy. Lịch sử thế giới đã diễn ra, đủ rõ ràng để chứng thực điều này.

   Như vậy, với chiến thằng Điện Biên Phủ “Vang dội năm châu, chấn động địa cầu” chỉ là chiến thắng của kẻ vừa ngu, vừa ác. 

   III. 7 - Cái ngu và cái ác còn được ông Hồ Chí Minh và đám tay chân thuộc hạ của ông ta tiếp tục thực hiện trong cuộc trường kỳ 20 năm phiêu diêu đánh Mỹ. Tuy có kết cục là Mỹ cút, nhưng dân tộc Việt Nam đã bị thiêu vào đây 5 triệu mạng người và cả dân tộc với mấy chục triệu người bị thương lê lết; non sông gấm vóc từ Mục Nam Quan đến Mùi Cà Mâu bị bom đạn cày xới, bị thuốc độc hóa học hủy diệt tanh bành, bung nát.
Ngu là, chỉ thấy người Mỹ có mặt trên đất nước mình thì lao đầu vào đánh, chẳng biết Mỹ, người Mỹ, xã hội Mỹ là thế nào, tại sao họ lại có mặt ở nước mình? Không biết Mỹ là thế nào, cắm mặt cắm mũi vào đánh nhau với Mỹ, quyết giành thắng lợi kỳ được bằng mọi giá, dù phải đánh tới người Việt Nam cuối cùng, cũng chỉ là suy nghĩ của số đông người bình thường, không phải của người Tài. Người Tài phải là người luôn biết kẻ thù là ai, như thế nào và đặc biệt phải biết thời, biết thế, biết “bánh xe lịch sử” tất yếu quay như thế nào, và quan trọng bậc nhất là nó quay theo hướng nào. Cụ thể, người Tài phải biết, nước Mỹ là nước dân chủ nhất thế giới, giàu có nhất thế giới, khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới, quân sự mạnh nhất thế giới. Mục đích người Mỹ có mặt ở Việt Nam, không phải xâm lược Việt Nam, thống trị dân Việt Nam, kiếm lợi từ Việt Nam mà chỉ là để ngăn chặn sự bành trướng của cái quái thai nhân loại là Chủ nghĩa Cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc đang hùng hổ bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, và khai sáng văn minh, dân chủ cho người Việt Nam mà thôi. Ta đánh Mỹ không chỉ là đem sức cào cào, châu chấu của ta ra đọ với voi, nguyên tử mà còn trực tiếp đánh vào dân chủ, văn minh của nhân loại và của chính dân tộc Việt Nam đang khao khát mãnh liệt. Bởi vậy, khi đuổi được Mỹ ra khỏi Việt Nam, cả dân tộc trong cơn hấp hối lại tìm mọi cách để cầu thân với Mỹ để mong Mỹ ra tay cứu vớt. Điều này cũng đã rõ như ban ngày.

   Vì vậy,việc quyết định đánh Mỹ đến tận tâm, tận lực của cả dân tộc để giành thắng lợi cho kỳ được, không phải là suy nghĩ và quyết định của người Tài, nó chỉ là suy nghĩ và quyết định của người bình thường. Nó chỉ là quyết định của kẻ cuồng tín, ngu muội và thích làm điều ác. 

   Lịch sử 70 năm của ĐCSVN cầm quyền, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh và kế tiếp là những người do ông lựa chọn và đào tạo là lịch sử lầm đường, lạc lối, là lịch sử của cái Ác kế tiếp nhau, không ngừng nở rộ. Nhìn chung, không thể tìm đâu ra cái Đức vì đất nước, vì dân tộc của những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam mà đứng đầu là ông Hồ Chí Minh.

   Những sự thật trên, đủ để kết luận, ông Hồ Chí Minh không phải là người có Tài và càng không phải là người có Đức. Ông chỉ là người bình thường. Đơn giản vì ông cầm đầu cả Đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam quyết chọn đường đi cho dân tộc Việt Nam với những mất mát, đau thương về của cải và mạng người Việt Nam tới ngút trời, ngập đất mà không mang lại một giá trị tiến bộ xã hội nào cho nước Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Hơn nữa, con đường ông quyết chọn, đã và đang đưa đường dân tộc phải đối mặt với nguy cơ mất nước bởi bọn Tàu Cộng.

   Một người không biết thời thế, không biết tất yếu nhân loại phải tiến lên trên con đường nào, đã đưa cả dân tộc vào bão lửa chiến tranh, chui sâu vào hầm mộ, lạc loài với con đường đi tất yếu của thế giới văn minh, người đó sao có thể có Tài được? Không, nhất định không thể. 
Ai đó, thậm chí cả một dân tộc, thừa nhận ông Hồ là người Tài, người Đức, người đó, dân tộc đó chỉ là đồng bọn và thuộc hạ cùng tàn bạo, ngu dốt như ông ta mà thôi.

   Những kẻ thi nhau làm ăn trên thân xác của ông Hồ bằng cách dựng tượng đài la liệt khắp non sông để bòn rút kiếm ăn mồ hôi nước mắt của 90 triệu dân, kẻ đó còn khốn nạn, còn ác, còn ngu, còn táng tận lương tâm hơn ông Hồ Chí Minh gấp hàng vạn lần.

   Tóm lại, nôm na sự thậy là thế này: Anh ( ông Hồ) bảo với nhân dân Việt Nam hãy theo tôi, đi trên con đường mới Xã hội chủ nghĩa này sẽ có dân chủ, tự do, ấm no, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam cũng tin và đi theo, tự nguyện để cho anh ( ông Hồ) ngốn tươi 5 triệu mạng người, cả dân tộc bị thương lê lết, non sông gấm vóc bị bom cày, đạn xới tan nát, tanh bành. Hơn nữa, sau 70 năm, đám đệ tử của ông lãnh đạo “toàn diện và triệt để” đất nước, tiếp tục đi theo con đường ông đã vạch, nhân dân vẫn chẳng thấy tự do, ấm no, hạnh phúc ở đâu mà chỉ thấy toàn điều ngược lại, đất nước, dân tộc lại còn phải đối mặt với họa mất nước, mất dân tộc bởi Tàu Cộng. Như thế là anh ( ông Hồ) đã dẫn dân tộc đi sai đường, tức nhầm đường, lạc lối. Một người được công nhận là Tài, phải là người “thấy trước được điều thiên hạ thấy” và khôn khéo dẫn dắt cả dân tộc đi theo với thương vong và khổ đâu ít nhất. Anh ( ông Hồ) đã không thấy và làm được điều này mà ông cũng chỉ nghĩ và làm được những việc bình thường như chán vạn người Việt Nam bình thường khác.Vậy thì, còn căn cứ nào để Đảng của anh (ông Hồ), dân tộc Việt Nam của anh( ông Hồ) tôn vinh anh (ông Hồ) là người Tài? Không thể có căn cứ nào nữa.

Ôi khổ hạnh thay cho dân tộc Việt Nam tôi.
                         BĐX.

Toàn văn:
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
1. Sự nô dịch các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp tác trên thế giới.
2. Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.
3. Việc thiếu sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
4. Tất cả mọi hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
5. Các bước tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
6. Bất kỳ cố gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ.

Bạn, Ha ThanhNguyen Lan ThangLê Thăng Long và 46 người khác thích điều này.
Bình Luận
Lê Văn Đạt Các bạn hãy nghĩ xem: Cũng là thống nhất đất nước để phát triển thì phương án của người Đức hay của đảng CSVN tốt hơn ?
ThíchTrả lời222 giờ
Phi Trinh Hay quá !
Nguyễn Thanh Vân Bác viết hay quá! Rất thuyết phục ạ.
Đỗ Hùng Để khai sáng cho cả thế hệ mù quáng không dễ đâu.
ThíchTrả lời221 giờ
Khanh Viet Bài viết có những con số thống kê biết nói và Rất thuyết phục. Cám ơn BĐX, tác giả bài viết. Xin được chia sẻ
ThíchTrả lời120 giờ
Nguyễn Hoàng Sa Bác Phạm Thành viết rất hay. Nói tóm lại Hồ chí Minh là kẻ trôi sông lạc chợ , sinh vô gia cư tử vô địa táng.
Dungmua Nguyen Bác viết quá hay , quá đúng cả nhà cả họ em là đảng viên Cs cũng không dam cãi lại bác ! cho em được share .
Lâm Phạm Thị Bác viết hay quá, cảm phục bác. Quang Trần Nhật đọc bài này khóc ra tiéng mán.
Mạnh Hùng Vũ

Viết trả lời...
Mạnh Hùng Vũ Một bài viết hay, sâu sắc, phân tích, đánh giá khách quan về sự thật lịch sử không thể chối cãi được. Bài viết góp phần vào việc khai sáng sự mù quáng, mu muội trong xã hội. Cảm ơn nhà văn Phạm Thành.
Mạnh Hùng Vũ

Viết bình luận...

16 October 2015

Bản Lên Tiếng Về chuyến đi Việt Nam của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông


Bản Lên Tiếng
Về chuyến đi Việt Nam của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông

Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước và quan tâm về tình hình Biển Đông, quan niệm rằng bảo vệ đất nước là trách nhiệm chung của toàn dân. Vì vậy chúng tôi thấy có bổn phận phải lên tiếng để cảnh giác và kêu gọi những điều sau đây:

Thứ nhất, trong mối quan hệ giữa hai nước, Việt Nam thường xuyên bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp một cách nghiêm trọng trên các mặt chính trị và kinh tế. Tham vọng của Trung Quốc là dùng sức mạnh để chiếm giữ và kiểm soát giao thương trên Biển Đông. Tham vọng này đe dọa quyền tự do hàng hải trong vùng, ảnh hưởng rất lớn lên sự phát triển và ổn định của cả khu vực Á Châu Thái Bình Dương. Riêng đối với Việt Nam, hành động xâm chiếm của Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại đáng kể về mặt tài nguyên và ngư nghiệp, đe dọa an ninh quốc phòng.

Thứ hai, chính vì tham vọng của Trung Quốc đang là mối lo ngại của thế giới, đây là lúc quyền lợi của chúng ta và nhiều nước khác tương đồng với nhau. Do đó, nhà cầm quyền Việt Nam phải đẩy mạnh hợp tác và xây dựng thế liên minh với những nước có chung mối quan tâm về vấn đề Biển Đông để cùng đối phó với tham vọng của Trung Quốc, như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản,... Đây cũng là lúc phải xét lại mối quan hệ với Trung Quốc, xét lại những cái gọi là “4 Tốt” hay “16 Chữ Vàng”, xét lại tất cả những ký kết không bình đẳng từ trước đến nay và phải từ bỏ biện pháp đối thoại song phương với Trung Quốc, vì đây chính là cái bẫy của Bắc Kinh. Thay vào đó, hãy dùng tòa án quốc tế để đối phó với Trung Quốc như là Philippines đang làm.

Thứ ba, khi Trung Quốc vẫn bất chấp sự phản đối của Việt Nam và nhiều nước trong vùng, tiếp tục bồi đắp nhiều đảo nhân tạo trên biển Đông với mục tiêu quân sự, tiếp tục tấn công ngư dân Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, nhà cầm quyền Việt Nam không thể trải thảm đỏ để đón tiếp Chủ tịch nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình! Nhân dân Việt Nam phải nói "Không!" về sự có mặt của Tập Cận Bình trên đất nước chúng ta và nhà cầm quyền cần hủy bỏ ý định đón tiếp Tập Cận Bình như các cơ quan truyền thông đã loan tin. Đây là một hành động cần thiết trên mặt ngoại giao để khẳng định thái độ của chúng ta trước một nước láng giềng đang chèn ép và xem thường dân tộc Việt Nam.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, công bố bản lên tiếng này nhằm thể hiện tiếng nói của những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước và góp phần kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tộc trước một hiểm họa nghiêm trọng. Xây dựng nội lực dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh và xây dựng hợp tác hữu nghị với những nước có cùng mục tiêu là yếu tố then chốt để giúp chúng ta giữ được sự độc lập và chủ quyền đối với Trung Quốc.

                                                             Việt Nam, ngày 15 tháng 10 năm 2015

Đồng ký tên :

1.        Nguyễn Xuân Anh, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
2.        Trần Văn Bang, Kỹ Sư - Sài Gòn
3.        Nguyễn Vũ Bình, nhà báo, cựu tù nhân lương tâm - Hà Nội
4.        Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo – Sài Gòn
5.        Nguyễn Kim Chi, Nghệ Sĩ - Hà Nội
6.        Tống Văn Chính, Phật Giáo Hòa Hảo - An Giang
7.        Quách Văn Công, hoạt động xã hội – Lâm Đồng
8.        Nguyễn Văn Cừ  - Hải Dương
9.        Nguyễn Kim Cương - Hà Nội
10.      Lương Văn Diện  - Hải Dương
11.      Lê Quang Du - Sài Gòn
12.      Thái Văn Dung, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
13.      Đặng Văn Dũng, Hà Nam
14.      Hoàng Dũng, hoạt động nhân quyền - Sài Gòn
15.      Lã Việt Dũng, Kỹ Sư - Hà Nội
16.      Nguyễn Văn Duyệt, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
17.      Nguyễn Văn Đài, Luật Sư, cựu tù nhân lương tâm  - Hà Nội
18.      Ngô Nhật Đăng, Nhà Báo - Sài Gòn
19.      Nguyễn Văn Đề, hoạt động xã hội - Hà Nội
20.      Nguyễn Văn Điền, Phật Giáo Hòa Hảo - Đồng Tháp
21.      Lê Công Định, Luật Sư, cựu tù nhân lương tâm  - Sài Gòn
22.      Ninh Thị Định  - Hải Phòng
23.      Trần Hữu Đức, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
24.      Nguyễn Hữu Giải, Linh Mục - Huế
25.      Hoàng Văn Giảng - Hải Dương
26.      Nguyễn Thanh Hà, nhà giáo - Hà Nội
27.      Nguyễn Thị Hà  - Hải Phòng
28.      Đỗ Thị Minh Hạnh, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
29.      Nguyễn Thúy Hạnh – Hà Nội
30.      Nguyễn Văn Hiên  - Bắc Ninh
31.      Lê Quang Hiển, Phật Giáo Hòa Hảo - Sài Gòn
32.      Nguyễn Hoàng Hoa, Mục Sư - Trà Vinh
33.      Phan Tấn Hòa, Phật Giáo Hòa Hảo - Cần Thơ
34.      Phạm Minh Hoàng, nhà giáo, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
35.      Lê Hùng, Hoạt động xã hội - Hà Nội
36.      Lê Anh Hùng, Hoạt động xã hội - Hà Nội
37.      Nguyễn Thanh Huân, Hoạt động nhân quyền, Nghệ An
38.      Nguyễn Mạnh Hùng, Mục Sư - Sài Gòn
39.      Nguyễn Thế Hùng, Giáo sư Đại học - Đà Nẵng
40.      Phan Văn Hùng - Hà Nội
41.      Vũ Hùng, nhà giáo, cựu tù nhân lương tâm  - Hà Nội
42.      Vũ Mạnh Hùng, nhà giáo - Hà Nội
43.      Đỗ Ngọc Hương, tiểu thương - Hải Phòng
44.      Trần Thị Hường, Hoạt động bảo vệ sự sống - Hà Nội
45.      Trương Minh Hưởng - Hà Nam
46.      Lê Quang Huy, nhà giáo - Thái Nguyên
47.      Dương Kim Khải, Mục Sư, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
48.      Lê Văn Khôi, Công nhân - Nghệ An
49.      Hoàng Văn Khởi - Hà Nội
50.      Nguyễn Kiêu, sinh viên, Sài Gòn
51.      Nguyễn Thị Lan - Hải Phòng
52.      Nguyễn Kim Lân, Chánh trị sự Cao Đài - Vĩnh Long
53.      Đặng Băn Lê - Hải Phòng
54.      Vũ Linh, nhà giáo - Hà Nội
55.      Nguyễn Trung Lĩnh, Kỹ sư, cựu tù nhân lương tâm - Hà Nội
56.      Phan Văn Lợi,  Linh Mục - Huế
57.      Đinh Đức Long, Tiến sĩ, Bác sĩ - Sài Gòn
58.      Võ Phi Long, hoạt động xã hội – Sài Gòn
59.      Bùi Văn Lược, Phật Giáo Hòa Hảo - Vĩnh long
60.      Lỗ Ngọc Lê Đình Lượng, Hoạt động nhân quyền - Nghệ An
61.      Đặng Văn Mạnh - Hà Nam
62.      Đặng Ngọc Minh, cựu tù nhân lương tâm - Trà Vinh
63.      Vũ Đức Minh, Hoạt động xã hội - Hà Nội
64.      Nguyễn Huy Năng, hoạt động xã hội – Ninh Bình
65.      Vũ Đức Ninh - Hải Dương
66.      Nguyễn Thị Nga, tiểu thương - Hải Phòng
67.      Trần Thị Thúy Nga, hoạt động xã hội - Hà Nam
68.      Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà văn, cựu tù nhân lương tâm - Hải Phòng
69.      Nguyễn Danh Ngọc, nhà giáo - Bắc Giang
70.      Nguyễn Huyền Nguyên - Hải Phòng
71.      Trần Minh Nhật, cựu tù nhân lương tâm - Lâm Đồng
72.      Nguyễn Thị Khiêm Nhu, viết văn - Sài Gòn
73.      Nguyễn Văn Oai, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
74.      Hồ Văn Oanh, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
75.      Tô Oanh, nhà giáo - Bắc Giang
76.      Hứa Phi, Chánh trị sự Cao Đài - Lâm Đồng
77.      Phan Văn Phong - Hà Nội
78.      Trần Hoàng Phúc, sinh viên Luật - Sài Gòn
79.      Nguyễn Bạch Phụng, Chánh trị sự Cao Đài - Vĩnh Long
80.      Trịnh Bá Phương, hoạt động xã hội -  Hà Nội
81.      Lê Quốc Quân, Luật Sư, cựu tù nhân lương tâm  - Hà Nội
82.      Nguyễn Đan Quế, Bác sĩ, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
83.      Bạch Hồng Quyền, Truyền Thông, hoạt động xã hội - Hà Nội
84.      Ngô Duy Quyền, Hoạt động xã hội - Bắc Giang
85.      Lê Văn Sóc, Phật Giáo Hòa Hảo - Vĩnh Long
86.      Lai Tiến Sơn - Hà Nội
87.      Chu Mạnh Sơn, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
88.      Nguyễn Mạnh Sơn, cựu tù nhân lương tâm - Hải Phòng
89.      Paulus Lê Sơn, cựu tù nhân lương tâm - Thanh Hóa
90.      Trương Minh Tam, cựu tù nhân lương tâm - Hà Nam
91.      Hòa Thượng Thích Không Tánh - Sài Gòn
92.      Dương thị Tân, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
93.      Nguyên Công Thanh, chuyên viên cơ khí - Sài Gòn
94.      Lê Ngọc Thanh, Linh Mục - Sài Gòn
95.      Nguyễn Văn Thành  - Hải Phòng
96.      Trần Đức Thạch, cựu tù nhân lương tâm - Nghệ An
97.      Nguyễn Trọng Thao - Hải Dương
98.      Nguyễn Thị Thâu - Hải Phòng
99.      Đinh Hữu Thoại, Linh Mục - Sài Gòn
100.   Huỳnh Công Thuận, Cựu quân nhân QLVNCH - Sài Gòn
101.   Trần Ngọc Thuận - Hà Nội
102.   Bùi Thị Thu - Hải Phòng
103.   Nguyễn Thị Minh Thư - sinh viên, Sài Gòn
104.   Nguyễn Thị Thúy  - Hải Phòng
105.   Nguyễn Trọng Thủy - Hà Nội
106.   Nguyễn Tường Thụy, nhà báo - Hà Nội
107.   Nguyễn Trung Tôn,  Mục Sư, cựu tù nhân lương tâm  - Thanh Hóa
108.   Phạm Toàn, nhà giáo dục học - Hà Nội
109.   Nguyễn Huyền Trang, phóng viên - Sài Gòn
110.   Nguyễn Văn Tráng, sinh viên - Thanh Hóa
111.   Nguyễn Trung Trực, cựu tù nhân lương tâm - Quảng Bình
112.   Thân Văn Trường, Mục Sư - Sài Gòn
113.   Nguyễn Bắc Truyển, cựu tù nhân lương tâm - Sài Gòn
114.   Từ Anh Tú, hoạt động xã hội - Hà Nội
115.   Nguyễn Ngọc Tuấn - Hải Dương
116.   Chu Văn Tuấn, hoạt động xã hội - Nghệ An
117.   Lê Thanh Tùng, truyền thông - Sài Gòn
118.   Nguyễn Thị Tươi  - Hải Dương
119.   Đinh Quang Tuyến, hướng dẫn viên du lịch -  Sài Gòn
120.   Đỗ Văn Tuyển, cựu tù nhân lương tâm  - Hải Dương
121.   Lê Thị Vân  - Hải Phòng
122.   Hà Thị Vân, hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo  - Hà Nội
123.   Nguyễn Văn Viên, hoạt động xã hội - Nam Định
124.   JB Nguyễn Hữu Vinh, nhà báo – Hà Nội
125.   Đinh Nhật Uy, Kỹ Sư Tin Học – Long An
126.   Nguyễn Phương Uyên, sinh viên, cựu tù nhân lương tâm – Bình Thuận

127.   Phan Thị Hải Yến, Kế Toán  - Sài Gòn

03 October 2015

MỘT ĐÁM CƯỚI CHỈ Ở CHỐN THIÊN ĐƯỜNG XHCN MỚI CÓ !!!




 
Hình ảnh nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa trưng giấy phép của chính quyền cho đén đám cưới con 
    Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa một tù nhân lương tâm, sau khi ra tù được một năm, một tuần ông tổ chức đám cưới cho con trai đầu vào ngày 25/9. Tối ngày 23/9 an ninh đã đến hỏi tôi : Anh có được mời không, anh có đi không … Tất nhiên tôi không trả lời, bởi họ không thể giấu nỗi cái thứ tình cảm quỷ ám và nghiệp vụ vô duyên để dò hỏi thông tin cho những kẻ chỉ huy cấp cao thực hiện mưu hèn kế bẩn. Ngày 24/9 an ninh liên tục đến nhà không thấy tôi ở nhà, họ hỏi người nhà, tôi đi chơi gần hay đi chơi xa. Tôi hỏi một số anh chị em thì cũng được an ninh quan tâm như thế.

   Mặc cho sự quan tâm của AN, hầu hết số người được mời rất nhiệt tình đều sẵn sàng đi dự đám cưới (trừ một số người bận không thể đi được). Vì anh chị em ai cũng hiểu, ngoài tình cảm con người với con người, còn một thứ tình cảm đặc biệt cao quý. Đó là tình cảm đối với những người dám hy sinh dấn thân tranh đấu cho sự thật công lý, cho dân chủ nhân quyền, cho một xã hội văn minh, cho sự toàn vẹn lãnh thổ - lãnh hải của Tổ quốc. Tình cảm đặc biệt đó vượt lên trên sự sợ hãi và nó trở nên nhạy cảm đối với chế độ độc tài đảng trị.

    Sáng 25/9, một số anh em ở Hà Nội đi xe buýt, một số anh chị em đi xe con, có 3 xe mỗi xe có 5 chỗ ngồi ( kể cả lái xe ) đến Hải phòng lúc 11h30. Vì phải chờ nhau và bị lạc đường khoảng 12h30 chúng tôi mới tìm đến được nơi tổ chức đám cưới. Mọi chiêu độc, mưu hèn kế bẩn của công an thực hiện đối với đám cưới đã được nhà văn Nguyễn Tường Thụy tường thuật và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bổ sung chi tiết qua việc đối thoại với chủ nhà hàng Bùi Xuân Chiến. Nên ở đây tôi chỉ bàn đến sự nhạy cảm của đám cưới.

   Các đám cưới bình thường không có vấn đề nhạy cảm XHCN thì chỉ sau khi khách đến ăn cỗ xong gần như ít ai nhắc đến. Đàng này đối với đám cưới con trai nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng đã một tuần trôi qua vẫn được dư luận bàn tán xôn sao và dư âm chắc còn dài dài.

    Nhiều người chưa từng biết ông Nghĩa, hỏi thăm : Ông là ai và tại sao đám cưới con trai ông lại được đảng nhà nước quan tâm đến thế.

   Nhìn bề ngoài đám cưới không ít người dân nghĩ ông là người có chức quyền cao trong giới cầm quyền của chế độ. Có lẽ sự nhìn nhận của người dân bình thường ít quan tâm đến thế sự họ thấy không có một đám cưới nào từ trước đến nay lại có hàng trăm công an, cả thường phục và sắc phục, trật tự, dân phòng vòng trong vòng ngoài đông như quân Nguyên, thậm chí mặc cả áo nhân viên nhà hàng đóng vai tiếp tân áp sát từng mâm cỗ, (chưa kể những viên an ninh mặc thường phục lợi dụng khi khách của hai họ đến đông đúc len lỏi ngồi vào các mâm). Mặt khác, đám cười lại có rất nhiều khách, nhiều thành phần từ mọi miền đến dự ( cả nhà sư, mục sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ ưu tú  … ). Khách đi đến đâu được bộ phận an ninh bám sát “ bảo vệ “ đến đó.



    Trên stt FB của Đào Tu Non ghi rõ : “Hình ảnh những vị khách không công an, an ninh TpHải phòng, côn an, an ninh Tp Hà nội, cùng công an, an ninh bộ công an khách không mời mà đến cũng tham gia dự tiệc ngồi cạnh biển hiệu nhà hàng tình chiến bên ngoài có 2 an ninh công an đứng mặc áo thun lâu , viền cổ đỏ trà trộn giả làm nhân viên phục vụ nhà để theo dõi nghe ngóng bà con dân oan cùng các nhà hoạt động dân chủ”.


    Sự thật thì chỉ những người quan tâm đến thế sự, nhất là những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền mới biết rõ bản chất sự quan tâm đặc biệt của đảng nhà nước CSVN đối với đám cưới có một không hai từ trước tới nay. Bởi đám cưới đó là đám cưới con trai của một tù nhân lương tâm.

Vì sao gọi là tù nhân lương tâm ?

    Bản thân ông Nguyễn Xuân Nghĩa trước đây đã từng là văn, nhà thơ, nhà báo quốc doanh ở đất cảng. Vì yêu công lý và sự thật, không chấp nhận ngòi bút của mình bị bẻ cong trước cường quyền đen tối ông đã từ bỏ môi trường bút nô để được độc lập viết lên những suy nghĩ, chính kiến của mình. Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa luôn bày tỏ lương tâm của mình đối với những bất công trong xã hội, ông đã từng tham gia nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và là người viết và treo khẩu hiệu có nôi dung : “ Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Việt Nam – Tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam – Đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam” ở cầu vươt Lạch Chay Hải Phòng và cầu Lai Cách Hải Dương. Ông bị công an nhà nước Cộng sản Việt Nam bắt giam và tòa án của nhà cầm quyền nhân danh nhà nước CHXHVN xét xử ông về tội “ Tuyên truyền chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” với bản án 6 năm tù giam và 3 năm quản chế.


    Gia đình ông và bản thân ông vẫn khẳng định ông không có tôi. Việc bắt giam, xét xử ông không công khai rồi bỏ tù ông một cách phi lý, nhưng còn tồi tệ hơn từ khi ông Nghĩa bị bỏ tù, liên tục bị công an trại thi hành công vụ đối xử với ông một cách dã man tàn bạo. Ông bị chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác làm khó cho gia đình người thân thăm nuôi.

    Chỉ cần suy nghĩ một chút, người bình thường ai cũng có thể thấy những người cầm quyền của chế độ không thực chất được nhân dân bầu chọn ra, họ không có tính chính danh, họ luôn luôn đặt quyền lợi của cá nhân, phe nhóm, đảng phái lên trên quyền lợi của Tổ quốc và Nhân dân. Nhưng họ lại luôn luôn nấp vào Tổ quốc, nấp vào Nhân dân để tồn tại. Họ không có tâm, không có tầm, sợ mất quyền lực không chính danh, mất những đặc quyền đặc lợi bất chính, mất sự cai trị độc tài độc tôn. Chính vì lẽ đó họ rất sợ những người có chính kiến khác, sợ bản chất của họ bị phơi bày trước số đông, sợ sự thật, sợ các tổ chức độc lập, đối lập hình thành.

   Mặc dù họ đã áp đặt được những điều luật mù mờ và có cả một bộ máy cảnh sát tư tưởng, kiểm soát bất đồng chính kiến nhưng họ vẫn luôn luôn lo sợ. Bởi họ không thể áp đặt hoàn toàn ý muốn của họ bằng luật pháp phi lý (như cấm các quyền tự do sinh hoạt cá nhân, đi lại thăm hỏi, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, giúp đỡ, động viên nhau lúc khó khăn hoạn nạn) để  hạn chế, cô lập triệt hạ tư tưởng đối lập. Không có lý lẽ cho sự cai trị đen tối, nhà cầm quyền phải sử dụng một hệ thống công cụ bạo lực đã được súc vật hóa, côn đồ hóa bất chất luật pháp, chà đạp lên luật pháp của chính mình để thực hiện cho được những mưu hèn kế bẩn.


    Đây cũng chính là một trong những lý do nhà cầm quyền công sản không bao giờ muốn thay đổi chương trình giáo dục, không muốn đất nước có một luật pháp văn minh, để sánh vai với các cường quốc năm châu. Mặc dù con cái họ thì hầu hết đều cho đi học ở các nước dân chủ văn minh, con cái của dân nghèo phải học chương trình giáo dục bất hợp lý do nhà cầm quyền áp đặt trong nước để thực hiện chính sách ngu dân.

   Thật đau lòng cho những người cha, người mẹ có lương tri nếu biết, có hiểu vì sao con mình sinh ra nuôi dạy, có ăn có học lại trở thành những kẻ côn đồ, phải đi làm những điều bất nhân như thế !

    Đối với những người hiểu biết và có lương tri thì hành động của những công cụ bị súc vật hóa, côn đồ hóa thật đáng thương hại.
Xin trích FB của anh Hải Thanh Nguyễn (https://www.facebook.com/xuthanhn?fref=ts )
“Các cháu An ninh, Công an, Côn đồ, Dư luận viên… yêu mến !
Các cháu, bác biết lắm, các cháu phần lớn con nhà lao động, chỉ vì miếng ăn mà chấp nhận làm bất cứ việc gì.
Bác thông cảm.
Nhưng các cháu ạ, những đứa tội ác ngập đầu, chúng lót ổ ở nước ngoài cả rồi, nguy cơ mới lấp ló ở chân trời thì cả nhà chúng đã tìm đường trốn hết.
Các cháu thì sao? Liệu có bao nhiêu cháu đủ tiền, đủ thế lực để kiếm một chỗ trú thân, và còn gia đình, bố mẹ, vợ con, anh chị em… nữa.
Làm gì cũng nên nhìn trước nhìn sau, giữ cho mình một chỗ lùi, các cháu ạ.
Lòng dân… ai biết thế nào.”
Đám cưới đã một tuần trôi qua nhưng dư luận cư dân mạng cũng như quán nước, vỉa hè … vẫn không ngớt bàn tán xôn xao. Có người nói “bố mẹ những viên công an làm chuyện thất đức, vô phúc thì chúng nó mới làm những chuyện bất nhân như thế”; người thì “đến trùm xã hội đen như Khánh Trắng còn biết dạy con, đừng làm những việc như bố”; Người thì nói “cái đám công cụ ấy nó thể hiện văn hóa của giới cầm quyền, văn hóa đảng chứ gia đình ông bà, cha mẹ có ai đi dạy con làm những điều như thế”…
Càng nói thì càng buồn, càng chán ngán, càng thật vọng về cái văn hóa cai trị dân của “đỉnh cao trí tuệ”được gọi là lãnh đạo. Nhưng tôi vẫn tin tưởng rằng với thời đại thông tin thì chính cái văn hóa đó nó không đạt mục đích làm cho người dân sợ hãi khi đa số hiểu biết sự thật và cũng chính nó thôi thúc nhanh quá trình tự diễn biến. Đồng thời tôi cũng tin chắc rằng trong đám công cụ không phải ai cũng u mê, cũng bị súc vật hóa và đến một lúc nào đó người ta cũng khát khao quyền làm người.  
                                                                                                                              

                                                                               Hà Nội, ngày 2/10/2015.
                                                                                                                                                                                                                                Vũ Mạnh Hùng